Kiểm soát chất lượng (QC – Quality Control)

Trong những năm 1920, nhận thấy việc khắc phục những điểm sai sót ngay trong quá trình chế tạo là điều quan trọng, người ta đã lập các tiêu chuẩn chất lượng, các quy định kỹ thuật và các hướng dẫn thao tác để hy vọng đem lại sự ổn định cho chất lượng. Tuy nhiên các nhà quản lý thấy rằng, ngay cả khi mọi yếu tố trên có đầy đủ và đã được tiêu chuẩn hóa cao độ, vẫn còn rất nhiều yếu tố vượt ra ngoài sự kiểm soát của con người, chẳng hạn như yếu tố thời tiết, điều kiện môi trường. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, gây nên sự biến động về chất lượng mà trên thực tế không thể loại bỏ được. Vì lý do này, các tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm được sản xuất thực sự không bao giờ hoàn toàn đồng nhất, mà luôn luôn phân tán quanh giá trị mục tiêu.

Walter A. Shewhart, một kỹ sư thuộc phòng thí nghiệm Bell Telephone tại Princeton, New Jersey, đã rất quan tâm nghiên cứu quy luật phân tán của các dữ liệu và cố gắng áp dụng nó vào việc quản lý các quá trình sản xuất công nghiệp bằng cách xử lý các dữ liệu này và  coi chúng là ước lượng thống kê của các biến ngẫu nhiên. Ông là người đầu tiên đề xuất việc sử dụng các biểu đồ kiểm soát vào mục đích này. Điều này đã được nói đến trong cuốn sách nổi tiếng của ông: “Kiểm soát chất lượng sản phẩm sản xuất 1 cách kinh tế” xuất bản năm 1931. Lý thuyết biểu đồ kiểm soát của Shewhart được coi là cột mốc ra đời của hệ thống kiểm soát chất lượng hiện đại.

quality control

Phải mất 10 năm, hệ thống kiểm soát chất lượng hiện đại được Shewhart đề xuất mới được nhiều công ty hưởng ứng rộng rãi.Theo định nghĩa, kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng.

Để kiểm soát chất lượng, công ty phải kiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng. Trong thời kỳ mới ra đời, việc kiểm soát này nhằm chủ yếu vào quá trình sản xuất. Xét cho cùng, kiểm soát chất lượng là kiểm soát các yếu tố sau đây:

Kiểm soát con người

Người thao tác phải:

  • Được đào tạo
  • Có kỹ năng thực hiện
  • Được thông tin về nhiệm vụ được giao
  • Có đủ tài liệu, hướng dẫn cần thiết
  • Có đủ điều kiện, phương tiện làm việc

Kiểm soát phương pháp và quá trình, bao gồm

  • Lập quy trình sản xuất, phương pháp thao tác, vận hành;
  • Theo dõi và kiểm soát quá trình

Kiểm soát đầu vào

  • Người cung cấp phải được lựa chọn
  • Dữ liệu mua hàng đầy đủ
  • Sản phẩm nhập vào phải được kiểm soát

Kiểm soát thiết bị

Thiết bị phải:

  • Phù hợp với yêu cầu
  • Được bảo dưỡng

Kiểm soát môi trường

  • Môi trường thao tác (ánh sáng, nhiệt độ)
  • Điều kiện an toàn

Kiểm soát chất lượng ra đời tại Mỹ, nhưng rất đáng tiếc là các phương pháp này chỉ được áp dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực quân sự và không được các công ty Mỹ phát hành sau chiến tranh. Trái lại, chính ở Nhật Bản, kiểm soát chất lượng mới được áp dụng và phát triển, đã được hấp thụ vào chính nền văn hóa của họ. Nhật Bản trở thành “quê hương” thứ hai của kiểm soát chất lượng.

Nhà thống kê học người Mỹ, W.Edwards Deming đến Nhật Bản vào năm 1950 theo lời của JUSE để đào tạo khóa học 8 ngày về QC. Các khóa học đã được nhiệt tình hưởng ứng và các bài giảng của Deming đã giúp cho các thành viên tham dự hiểu được tầm quan trọng của QC trong sản xuất.

Năm 1954, Joseph Juran đến Nhật Bản, cũng theo lời mời của JUSE để tổ chức các khóa đào tạo QC cho những nhà quản lý trung và cao cấp. Những khóa này có ảnh hưởng rất sâu rộng với QC của Nhật Bản. QC không còn bị thu hẹp trong khu vực sản xuất và kiểm tra mà đã mở rộng đến mọi khu vực hoạt động của công ty và xác định rõ ràng vị trí của QC là 1 công cụ quản lý chung.

Bộ Công thương (nay là Bộ Công thương quốc tế MITI) đã ban bố luật tiêu chuẩn hóa trong công nghiệp vào năm 1949 với mục đích cải tiến chất lượng trong các sản phẩm công nghiệp của Nhật Bản. Theo luật này các hãng muốn được ghi nhãn hiệu Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) lên sản phẩm của họ phải qua 1 cuộc kiểm tra của chính phủ về hệ thống QC.

Như vậy, ngay sau chiến tranh, QC đã được đưa vào nền công nghiệp Nhật Bản và phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ. Điều này không những chỉ vì phương pháp thống kê – công cụ chủ yếu trong QC – rất phù hợp với người Nhật, người luôn luôn thích cái mới mà vì họ đã rất thành công trong việc cải tiến chất lượng, giảm giá thành, nâng cao năng suất, giảm phế phẩm và lượng hàng phải tái chế. QC đả đóng góp những điểm chủ yếu trong việc khôi phục và xây dựng lại nền công nghiệp Nhật Bản gần như bị hủy diệt trong thời gian chiến tranh. Tại Nhật, nó đã được cải biến cho phù hợp với nền văn hóa truyền thống của Nhật Bản và đã trở thành một công cụ thiết yếu trong việc duy trì chất lượng sản phẩm.